Đối tượng bị cấm thành lập doanh nghiệp

Khởi nghiệp là ước mơ và mong muốn của nhiều người. Tuy nhiên, cũng có nhiều trường hợp, theo quy định của Luật Doanh nghiệp, có nhiều đối tượng không có quyền thành lập và quản lý doanh nghiệp. Do đó, trước khi thành lập doanh nghiệp, bạn cần tìm hiểu, nghiên cứu xem bạn có bị cấm thành lập doanh nghiệp hay không? 

Mời quý khách theo dõi bài viết sau của Luatvn.vn. Nếu có thắc mắc quý khách vui lòng liên hệ với chúng tôi Luật VN hotline/zalo: 0763387788 để được tư vấn.

Người bị cấm thành lập và quản lý doanh nghiệp theo Quy định tại Điều 18 Luật Doanh nghiệp 2014

Theo quy định tại khoản 2 Điều 18 Luật Doanh nghiệp 2014, các đối tượng sau đây không có quyền thành lập và quản lý doanh nghiệp.

” Điều 18. Quyền thành lập, góp vốn, mua cổ phần, mua vốn góp và quản lý doanh nghiệp

Các tổ chức, cá nhân sau đây không có quyền thành lập và quản lý doanh nghiệp tại Việt Nam:

  • Cơ quan nhà nước và các đơn vị thuộc lực lượng vũ trang nhân dân sử dụng tài sản nhà nước để thành lập doanh nghiệp sản xuất lợi nhuận cho cơ quan, đơn vị mình;
  • Cán bộ, công chức, viên chức theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức, viên chức;
  • Sĩ quan, hạ sĩ quan, binh sĩ chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng và viên chức trong các cơ quan, đơn vị quân đội nhân dân ; sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên môn trong cơ quan, đơn vị thuộc công an nhân dân Việt Nam;
  • Các nhà lãnh đạo chuyên nghiệp và quản lý nhà nước trong các doanh nghiệp nhà nước, trừ những người được bổ nhiệm làm đại diện theo uỷ quyền quản lý phần vốn góp của nhà nước trong các doanh nghiệp khác;
  • Trẻ vị thành niên ; người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc mất năng lực hành vi dân sự ; tổ chức không có tư cách pháp lý;
  • Người bị truy cứu trách nhiệm hình sự, chấp hành án phạt tù hoặc quyết định xử lý hành chính tại cơ sở cai nghiện bắt buộc, cơ sở giáo dục bắt buộc hoặc cấm kinh doanh, giữ chức vụ nhất định. Dịch vụ hoặc thực hiện một số công việc liên quan đến kinh doanh do tòa án quyết định ; các trường hợp khác theo quy định của pháp luật về phá sản và chống tham nhũng.
  • Theo đề nghị của cơ quan đăng ký kinh doanh, người đăng ký thành lập doanh nghiệp phải nộp phiếu lý lịch tư pháp cho cơ quan đăng ký kinh doanh.

Tổ chức, cá nhân có quyền góp vốn, mua cổ phần, mua vốn góp cho công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty hợp danh theo quy định của luật này, trừ các trường hợp sau đây

  • Cơ quan nhà nước và các đơn vị thuộc lực lượng vũ trang nhân dân sử dụng tài sản nhà nước để góp vốn cho doanh nghiệp;
  • Các tổ chức, cá nhân không được góp vốn vào doanh nghiệp theo quy định của luật cán bộ, công chức. Lợi nhuận riêng cho cơ quan, đơn vị theo quy định tại điểm a khoản 2 và điểm a khoản 3 điều này là sử dụng thu nhập trong bất kỳ hình thức nào từ hoạt động kinh doanh, từ góp vốn, mua cổ phần của một trong các mục đích sau:
    A) phân phối theo bất kỳ hình thức nào hoặc tất cả những người được quy định tại điểm b và c khoản 2 điều này;
    B)Bổ sung ngân sách hoạt động của cơ quan, đơn vị trái với luật ngân sách nhà nước;
    C) thiết lập quỹ hoặc thêm vào quỹ để phục vụ lợi ích riêng của cơ quan, đơn vị. ”

Trường hợp cấm quản lý doanh nghiệp theo luật phá sản

Theo quy định tại điều 130 luật phá sản 2014, các quy định sau đây

Điều 130. Cấm đảm nhiệm chức vụ sau khi doanh nghiệp hoặc hợp tác xã bị tuyên bố phá sản:

  • Người nắm giữ chức vụ chủ tịch, tổng giám đốc, giám đốc, thành viên hội đồng quản trị doanh nghiệp bị tuyên bố phá sản không được giữ chức vụ trong bất kỳ doanh nghiệp nhà nước nào kể từ ngày doanh nghiệp có vốn nhà nước bị phá sản.
  • Đại diện vốn góp của nhà nước trong doanh nghiệp nhà nước được tuyên bố phá sản không được giữ chức vụ quản lý trong bất kỳ doanh nghiệp nhà nước nào.
  • Nếu người giữ chức vụ quản lý của doanh nghiệp, hợp tác xã bị tuyên bố phá sản, cố ý vi phạm quy định tại khoản 1 điều 18, khoản 5 điều 28 và khoản 1 điều 48 của luật này, thẩm phán sẽ xem xét quyết định không được thành lập doanh nghiệp hoặc hợp tác xã trong thời hạn 03 năm.
  • Các quy định tại khoản 1, 2 và 3 điều này không áp dụng trong trường hợp doanh nghiệp, hợp tác xã bị phá sản do bất khả kháng. ”

Do đó

Những cá nhân đã giữ chức vụ quản lý hoặc đại diện cho phần vốn góp của nhà nước trong các doanh nghiệp nhà nước nhưng đã được tuyên bố phá sản không được tham gia quản lý trong doanh nghiệp có vốn nhà nước.

Ngoài ra

Người quản lý doanh nghiệp hoặc hợp tác xã cố ý vi phạm các quy định của luật phá sản sẽ được thẩm phán xem xét quyền tham gia thành lập và quản lý doanh nghiệp trong thời gian thời gian. 03 năm kể từ ngày quyết định tuyên bố phá sản. Tất cả những hạn chế này sẽ không áp dụng trong trường hợp doanh nghiệp bị phá sản do bất khả kháng.

Giám đốc hoặc tổng giám đốc công ty thành lập doanh nghiệp lại được hay không?

Trước đây, theo quy định tại khoản 3 điều 70 của luật doanh nghiệp 2005, giám đốc và tổng giám đốc công ty là người thành viên hội đồng thành viên hoặc chủ tịch công ty có quyền bổ nhiệm người đại diện theo uỷ quyền hoặc chủ tịch công ty. Tuy nhiên, luật này đã hết hạn. Do đó, bây giờ một người có thể làm việc như một người quản lý cho nhiều doanh nghiệp cùng lúc và vẫn được cơ quan nhà nước cho phép.

Mời quý khách theo dõi bài viết trên của Luatvn.vn. Nếu có thắc mắc quý khách vui lòng liên hệ với chúng tôi Luật VN hotline/zalo: 0763387788 để được tư vấn.

Công ty Luật VN

Địa chỉ: 60 Nguyễn Quang Bích, P. 13, Q. Tân Bình, TP.HCM

Mr. Phan
Email: luatvn.vn02@gmail.com

Mọi thắc mắc về nội dung và cần được giải đáp?

Hãy NHẬP SỐ ĐIỆN THOẠI và yêu cầu gọi lại để được cán bộ tư vấn của công ty liên lạc hỗ trợ.



    Trả lời

    Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *