Thực trạng quản trị công ty đại chúng ở Việt Nam

Quản trị doanh nghiệp là một trong những chủ đề được các nhà nghiên cứu đặc biệt quan tâm. Theo các nhà nghiên cứu, quản trị doanh nghiệp yếu kém, ít thay đổi hoặc thay đổi chậm trong thời đại công nghiệp 4.0 là một trong những nguyên nhân dẫn đến những câu chuyện kinh doanh tai tiếng đã xảy ra ở các nước châu Âu. Hoa Kỳ và đặc biệt là cuộc khủng hoảng kinh tế ở châu Á.

Quý khách có bất cứ câu hỏi nào liên quan đến thủ tục pháp lý doanh nghiệp hãy liên hệ Luật Quốc Bảo hotline/zalo: 0763387788

Mục lục

Trước hết, cần phân biệt rõ khái niệm quản trị công ty (Quản trị công ty) và quản trị kinh doanh (Quản trị kinh doanh).

Quản trị kinh doanh là việc quản lý hoạt động sản xuất kinh doanh của một doanh nghiệp bởi Hội đồng quản trị. Quản trị công ty là quá trình quản lý từ cổ đông đến hoạt động của toàn công ty nhằm đảm bảo lợi ích của họ và xã hội.
Theo quy chế quản trị công ty do Bộ Tài chính ban hành tại Quyết định số 12/2007/QĐ-BTC ngày 13/3/2007, quản trị công ty được định nghĩa là “một hệ thống các quy tắc để đảm bảo rằng công ty được định hướng quản lý hoạt động và kiểm soát hiệu quả vì lợi ích của cổ đông và những người liên quan đến công ty”.

Theo nghĩa rộng, quản trị doanh nghiệp là đảm bảo sự cân bằng giữa các mục tiêu kinh tế và xã hội, giữa các mục tiêu cá nhân và tập thể.

Các khung quản trị tồn tại một mặt để khuyến khích sử dụng hiệu quả các nguồn lực và mặt khác cung cấp các yêu cầu trách nhiệm giải trình trong việc quản lý và kiểm soát các nguồn lực này. Mục tiêu của quản trị doanh nghiệp là đạt được sự hài hòa tối đa giữa lợi ích của cá nhân, công ty và xã hội.
Mặc dù không có sự đồng thuận, Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) đã đưa ra một định nghĩa được chấp nhận rộng rãi về quản trị doanh nghiệp “như là thủ tục và quy trình mà một tổ chức đang hoạt động và kiểm soát. Cơ cấu quản trị công ty quy định rõ ràng việc phân chia quyền và trách nhiệm giữa các thành viên khác nhau trong tổ chức – chẳng hạn như Hội đồng quản trị, Ban điều hành, cổ đông và các bên liên quan khác – và đặt ra các nguyên tắc và thủ tục để ra quyết định”.

Do đó, thực trạng quản trị công ty tại Việt Nam hiện nay đang là vấn đề cấp bách của các doanh nghiệp nói chung và các công ty đại chúng nói riêng.

Trong lịch sử, từ thế kỷ 18, Adam Smith đã viết trong cuốn sách “Sự thịnh vượng của các quốc gia” rằng “các quản trị viên, với tư cách là người quản lý tiền của người khác, không thể mong đợi rằng họ sẽ quan tâm đến tiền như chủ sở hữu thực sự của nó.” Điều này có nghĩa là vấn đề quản trị doanh nghiệp đã xuất hiện khá lâu, nhưng các sự kiện kinh tế hiện tại làm cho chủ đề này trở nên quan trọng hơn.
Theo Ngân hàng Thế giới, OECD và các ngân hàng khu vực đã tiến hành nhiều chương trình nghiên cứu về quản trị doanh nghiệp trong những năm qua. Từ năm 1999, OECD đã ban hành các nguyên tắc quản trị doanh nghiệp và sử dụng nó như một tiêu chuẩn để đánh giá sự tuân thủ các tiêu chí này của các quốc gia trong tổ chức. Ngân hàng Thế giới đã sử dụng các nguyên tắc này để tiến hành đánh giá sự tuân thủ của các quốc gia đối với các nguyên tắc cung cấp thông tin cho các nhà đầu tư.

Năm 2006, Ngân hàng Thế giới đã có báo cáo về việc thực hiện tuân thủ các nguyên tắc quản trị doanh nghiệp tại Việt Nam.

Tham khảo thêm: Thủ tục thành lập doanh nghiệp

Báo cáo này cho thấy tình hình quản trị doanh nghiệp ở Việt Nam chỉ tuân thủ một phần hoặc không tuân thủ các tiêu chí của OECD. Bên cạnh đó, theo báo cáo của VCCI, năm 2014, điểm trung bình quản trị doanh nghiệp ở Việt Nam là 35,1, thấp hơn nhiều so với Thái Lan (84,5), Malaysia (75, 2), Singapore (70,7) hay Indonesia (57,3). Năm 2015, Việt Nam cũng không có đại diện trong Top 50 công ty niêm yết có chất lượng quản trị doanh nghiệp tốt nhất ASEAN.

Trước đây, huy động vốn là vấn đề đau đầu của doanh nghiệp, huy động vốn vay đã khó, vốn chủ sở hữu còn khó khăn hơn.

Nhưng trong những tháng gần đây, xu hướng huy động vốn và bán đấu giá cổ phần đã được các nhà đầu tư hưởng ứng nhiệt tình. Giá cổ phiếu không còn là mệnh giá của vấn đề, mà cao hơn nhiều lần. Câu hỏi đặt ra là liệu các nhà đầu tư có thực sự đánh giá cao hiệu quả của việc tăng vốn này, hay chỉ đơn giản là mong đợi giá cổ phiếu tăng lên như các công ty niêm yết và sau đó bán lại để kiếm lợi nhuận?
Về mặt lý thuyết tài chính, chi phí vốn chủ sở hữu cao hơn giá vốn nợ, việc mở rộng vốn cổ phần không phải là giải pháp tài chính tối ưu, chi phí vốn tăng, doanh nghiệp sẽ khó khăn hơn. Hậu quả có thể thấy ở các doanh nghiệp này là họ phải đối mặt với một tương lai khắc nghiệt hơn khi họ mang trên vai các nguồn vốn lớn, chi phí vốn cao hơn và cạnh tranh gay gắt hơn. Ở châu Á, các nghiên cứu cho thấy có nhiều điều không chắc chắn về tính minh bạch liên quan đến quan hệ chính phủ-doanh nghiệp, giữa chủ nợ và chủ doanh nghiệp, và các biện pháp trừng phạt pháp lý liên quan đến phá sản. tài sản doanh nghiệp và chủ nghĩa thân hữu.

Gần đây, các vấn đề về định giá tài sản doanh nghiệp cổ phần hóa, giao dịch nội gián và gian lận thị trường chứng khoán gần đây thể hiện sự thiếu sót trong cơ chế kiểm soát.

Trong điều kiện thông tin bất đối xứng, người trong cuộc dễ dàng có được lợi thế cho bản thân, nhưng các nhà thầu là cổ đông nhỏ và xã hội. Điểm chung của những vấn đề này là chúng liên quan đến các nguyên tắc cơ bản của nền kinh tế và mối quan hệ tương quan giữa các nguyên tắc này và cách tổ chức các doanh nghiệp.

Theo Forbes Việt Nam, chính thức công bố danh sách “100 công ty đại chúng lớn nhất” mà Forbes Việt Nam đánh giá quy mô kinh doanh dựa trên 4 tiêu chí:

Doanh thu, lợi nhuận, tổng tài sản và vốn hóa thị trường, theo phương pháp xếp hạng danh sách Global 2000 (2.000 công ty lớn nhất toàn cầu) của Forbes (Mỹ). Khác với danh sách “50 công ty niêm yết tốt nhất” (đối tượng là các công ty niêm yết trên HSX và HNX) được công bố vào tháng 6 hàng năm, nhấn mạnh hiệu quả và tăng trưởng, danh sách “100 công ty đại diện” mà họ là lớn nhất” mở rộng đến các doanh nghiệp giao dịch trên UPCoM và các công ty đại chúng chưa niêm yết.
Các doanh nghiệp Việt Nam từng xuất hiện trong danh sách Global 2000 của Forbes (Mỹ) như Vietcombank, BIDV, VietinBank, Vingroup chia sẻ các vị trí dẫn đầu danh sách. Trong đó, Top 10 ghi nhận ấn tượng của doanh nghiệp tư nhân khi chiếm 5/10 vị trí. Các doanh nghiệp tư nhân lớn như Vingroup, Hòa Phát, Techcombank, VPBank, THACO, Masan Group… có thứ hạng cao trong danh sách. Nhiều thành viên của các tập đoàn kinh tế tư nhân như Vingroup, Masan Group và FPT nằm trong danh sách bên cạnh sự hiện diện của nhiều tập đoàn lớn và các tập đoàn nhà nước cổ phần hóa.

Với đặc thù ngành, ngành ngân hàng chiếm tỷ trọng áp đảo với 22 đại diện, trong đó có 6 đại diện nằm trong Top 10.

Sau đây là các ngành dầu khí, bất động sản và bán lẻ. Trong danh sách, Petrolimex đứng đầu về doanh thu với 8,35 tỷ USD trong khi Vietcombank đứng đầu về lợi nhuận sau thuế với 636 triệu USD. Với 57 tỷ USD, BIDV giữ vị trí dẫn đầu về tổng tài sản và Vingroup dẫn đầu về vốn hóa với giá trị xấp xỉ 16,5 tỷ USD (theo báo cáo tài chính kiểm toán hợp nhất năm 2018).
Theo thống kê của Forbes Việt Nam, HSX có 65 đại diện, UPCoM có 23 đại diện, HNX có 7 đại diện, còn lại là các doanh nghiệp đại chúng chưa niêm yết. Về phương pháp tính toán, Forbes Việt Nam sử dụng phương pháp xếp hạng Forbes Global 2000. Bước đầu tiên, chúng tôi tập hợp danh sách các công ty đại chúng bao gồm các công ty cổ phần với hơn 100 cổ đông chưa niêm yết và các công ty niêm yết trên HSX, HNX và UPCoM.
Tiếp theo, thu thập dữ liệu tài chính về tổng doanh thu, lợi nhuận, tổng tài sản và vốn hóa thị trường theo báo cáo tài chính kiểm toán hàng năm gần đây nhất – 2018. Vốn hóa của các công ty niêm yết đóng mức giá. đóng cửa ngày 13/12/2019; Vốn hóa công ty chưa niêm yết được xác định bằng cách nhân số lượng cổ phiếu với P/E trung bình của các công ty niêm yết trong cùng ngành. Tiếp theo, chấm điểm các doanh nghiệp trên bốn chỉ số tài chính. Tổng điểm cuối cùng quyết định vị trí xếp hạng của các công ty trong danh sách.
Stt                                                                 TÊN CÔNG TY
1. Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank) 51. Công ty cổ phần Cơ Điện Lạnh (REE Corp)
2. Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) 52. Công ty cổ phần Đầu tư và Phát triển Đô thị Sài Đồng
3. Tập đoàn Vingroup – công ty cổ phần (CTCP) 53. Ngân hàng thương mại cổ phần An Bình (ABBank)
4. Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam (VietinBank) 54. Công ty cổ phần Đường Quảng Ngãi
5. Công ty cổ phần Vinhomes (Vinhomes) 55. Công ty cổ phần tập đoàn Xây dựng Hòa Bình
6. Tổng công ty Khí Việt Nam – CTCP (PV Gas) 56. Công ty cổ phần tập đoàn Đất Xanh
7. Ngân hàng TMCP Kỹ thương Việt Nam (Techcombank) 57. Công ty cổ phần Thủy sản Vĩnh Hoàn
8. Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam Thịnh vượng (VPBank) 58. Tổng công ty cổ phần Viglacera
9. Công ty cổ phần tập đoàn Hòa Phát 59. Tổng công ty Điện lực TKV – CTCP (Vinacomin Power)
10. Ngân hàng thương mại cổ phần Quân đội (MBBank) 60. Công ty cổ phần tập đoàn Hoa Sen (Hoasen Group)
11. Công ty cổ phần Sữa Việt Nam (Vinamilk) 61. Tập đoàn Dệt May Việt Nam (VINATEX)
12. Công ty cổ phần Ô tô Trường Hải (THACO) 62. Tổng công ty Thép Việt Nam- CTCP (VNSteel)
13. Tập đoàn Xăng Dầu Việt Nam (Petrolimex) 63. Tổng công ty cổ phần Bia Nước Giải khát Hà Nội (Habeco)
14. Công ty cổ phần Tập đoàn Masan (Masan Group) 64. Công ty cổ phần Vicostone
15. Ngân hàng TMCP Á Châu (ACB) 65. Công ty cổ phần Nhiệt điện Phả Lại
16. Tổng công ty Hàng không Việt Nam – CTCP (Vietnam Airlines) 66. Công ty cổ phần Đầu tư và Kinh doanh Nhà Khang Điền
17. Công ty cổ phần Hàng không VietJet (VietJet) 67. Công ty cổ phần Thủy điện Đa Nhim – Hàm Thuận – Đa Mi
18. Công ty cổ phần Lọc – Hóa dầu Bình Sơn 68. Tổng công ty Phân bón và Hóa chất Dầu khí – CTCP (PVFCCo)
19. Tổng Công ty Cảng Hàng không Việt Nam – CTCP (ACV) 69. Công ty cổ phần tập đoàn FLC
20. Công ty cổ phần Đầu tư Thế Giới Di Động 70. Công ty cổ phần tập đoàn Sao Mai
21. Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương tín (Sacombank) 71. Công ty cổ phần Gemadept
22. Ngân hàng thương mại cổ phần Phát triển TP.HCM (HDBank) 72. Công ty cổ phần tập đoàn Thủy sản Minh Phú
23. Tập đoàn Công nghiệp Cao su Việt Nam 73. Ngân hàng thương mại cổ phần Nam Á (NamABank)
24. Tổng công ty CP Bia – Rượu – Nước giải khát Sài Gòn (Sabeco) 74. Tổng công ty Phát triển Đô thị Kinh Bắc – CTCP
25. Tập đoàn Bảo Việt 75. Tổng công ty Hàng hải Việt Nam (Vinalines)
26. Công ty cổ phần tập đoàn Đầu tư Địa ốc No Va (Novaland) 76. Công ty cổ phần PVI
27. Tổng Điện lực Dầu khí Việt Nam – CTCP (PV Power) 77. Công ty cổ phần Nhiệt điện Hải Phòng
28. Công ty cổ phần FPT (FPT Corp) 78. Công ty cổ phần Phát triển Bất động sản Phát Đạt
29. Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn – Hà Nội (SHB) 79. Công ty cổ phần Dược Hậu Giang
30. Ngân hàng thương mại cổ phần Quốc Tế Việt Nam (VIB) 80. Công ty cổ phần Điện lực Dầu khí Nhơn Trạch 2
31. Công ty cổ phần Hàng tiêu dùng (Masan Consumer) 81. Công ty cổ phần Xi măng Hà Tiên 1
32. Ngân hàng thương mại cổ phần Tiên Phong (TPBank) 82. Tổng công ty Lâm nghiệp Việt Nam (Vinafor)
33. Công ty cổ phần Vincom Retail 83. Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam Thương Tín (Vietbank)
34. Tổng công ty Máy động lực và Máy nông nghiệp (VEAM) 84. Tổng công ty cổ phần Phát triển Khu Công nghiệp (Sonadezi)
35. Ngân hàng TMCP Xuất nhập khẩu Việt Nam (Eximbank) 85. Công ty cổ phần Chứng khoán TP.HCM (HSC)
36. Ngân hàng TMCP Bưu điện Liên Việt (LienViet Post Bank) 86. Ngân hàng thương mại cổ phần Quốc Dân (Navibank)
37. Tổng công ty Đầu tư và Phát triển Công nghiệp (Becamex IDC) 87. Công ty cổ phần Thép Pomina
38. Ngân hàng thương mại cổ phần Phương Đông (OCB) 88. Công ty cổ phần Đầu tư Nam Long
39. Tổng công ty CP Dịch vụ Kỹ thuật Dầu khí Việt Nam (PTSC) 89. Công ty cổ phần VNG
40. Ngân hàng thương mại cổ phần Bắc Á 90. Công ty cổ phần Phân bón Dầu khí Cà Mau (Đạm Cà Mau)
41. Tổng công ty Dầu Việt Nam – CTCP (PV OIL) 91. Công ty cổ phần Hoàng Anh Gia Lai
42. Tổng công ty cổ phần Thiết bị Điện Việt Nam (GELEX) 92. Công ty cổ phần Y Dược phẩm Vimedimex
43. Công ty cổ phần Xây dựng Coteccons (Coteccons) 93. Tổng công ty cổ phần Vận tải Dầu khí (PVTrans)
44. Công ty cổ phần Vàng Bạc Đá quý Phú Nhuận (PNJ) 94. Công ty cổ phần Đầu tư & Thương mại SMC
45. Công ty cổ phần Tài nguyên Masan (Masan Resources) 95. Công ty cổ phần Đầu tư Hạ tầng Kỹ thuật TP.HCM (CII)
46. Công ty cổ phần Viễn thông FPT (FPT Telecom) 96. Công ty cổ phần Nhiệt điện Quảng Ninh
47. Công ty cổ phần Chứng khoán SSI 97. Ngân hàng thương mại cổ phần Kiên Long (KienlongBank)
48. Ngân hàng TMCP Hàng hải Việt Nam (Maritime Bank) 98. Công ty cổ phần Cao su Phước Hòa
49. Tổng CTCP Xuất nhập khẩu và Xây dựng Việt Nam (Vinaconex) 99. Công ty cổ phần Bán lẻ Kỹ thuật số FPT (FPT Retail)
50. Công ty cổ phần Mía đường Thành Thành Công – Biên Hòa 100. Công ty cổ phần Dịch vụ tổng hợp Sài Gòn (Savico)

Theo các chuyên gia, sự chậm trễ trong thực tiễn quản trị doanh nghiệp tại Việt Nam làm dấy lên lo ngại về sự mất cân đối giữa quy mô công ty và quản trị, không đáp ứng được đà tăng trưởng của doanh nghiệp.

Hành động kinh doanh. Sự phát triển của doanh nghiệp sẽ trở nên không bền vững, dễ bị tổn thương trước những rủi ro trên thị trường. Đồng thời, các doanh nghiệp Việt Nam sẽ không được đánh giá cao trên bản đồ đầu tư của khu vực và thế giới. Đặc biệt, tính minh bạch của hoạt động quản trị và sự tham gia của các cổ đông vào việc quản lý công ty còn rất thấp.

Trong tình hình quản trị kém của các công ty Việt Nam nói chung và các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán nói riêng hiện nay, một số chuyên gia cho rằng, động lực để nâng cao năng lực quản trị của ban lãnh đạo là ở các doanh nghiệp. Việc niêm yết chưa minh bạch và công khai kịp thời nên đã bị xử phạt… Chưa kể một số doanh nghiệp vẫn còn nhầm lẫn giữa quản trị (mô hình và quy trình để đảm bảo công bằng và minh bạch). , trách nhiệm lãnh đạo và trách nhiệm giải trình) và quản lý công ty (sử dụng các công cụ cần thiết để thực hiện quy trình quản trị).

Tham khảo thêm: Thủ tục thành lập hộ kinh doanh

Nhìn vào các công ty chưa niêm yết, vẫn còn những công ty đã hoạt động trong một thời gian dài nhưng chưa xây dựng được một bộ quy tắc quản trị công ty.

Bên cạnh đó, khó khăn trong việc xây dựng các ưu đãi để cải thiện quản trị doanh nghiệp, đặc biệt là trong các doanh nghiệp nhà nước, đến từ xung đột trong vai trò và trách nhiệm của các cổ đông trong hội đồng quản trị. Hầu hết các cổ đông này đóng vai trò vừa là người đại diện phần vốn của Nhà nước, người đại diện lợi ích cá nhân trong công ty, vừa là người quản lý, điều hành doanh nghiệp. Mâu thuẫn phát sinh giữa việc tối đa hóa lợi ích của Nhà nước, cá nhân và hoàn thành vai trò quản lý sẽ gây ra xung đột giữa vai trò, nhiệm vụ và mục tiêu của người đó. Những xung đột này cản trở việc cải thiện tính minh bạch, trách nhiệm giải trình và trách nhiệm giải trình trong quản trị.

Ngoài ra, phải kể đến một số doanh nghiệp có mô hình “gia đình trị”. Trong các doanh nghiệp này, các thành viên trong gia đình là thành viên hội đồng quản trị, đồng thời giữ các vị trí điều hành công ty, do đó cản trở tính minh bạch của thực tiễn quản trị công ty. Dưới góc độ quản lý nhà nước, Luật Doanh nghiệp 2014 và Luật Chứng khoán 2019… đã có những điều chỉnh cụ thể về quản trị doanh nghiệp. Các thông tư do Bộ Tài chính ban hành sau đó cũng từng bước nâng cao tiêu chí quản trị, từng bước tiệm cận với các chuẩn mực quốc tế. Luật Doanh nghiệp 2014 đã xác định những thay đổi cơ bản trong mô hình quản trị, trong đó có mô hình tập đoàn kinh tế. 

Dịch vụ của Luật Quốc Bảo phần doanh nghiệp

Thủ tục thành lập công ty
Thủ tục thành lập doanh nghiệp
Dịch vụ thành lập công ty giá rẻ
Dịch vụ thành lập công ty TpHCM
Thủ tục thành lập công ty TNHH
Thủ tục thành lập công ty cổ phần

Thủ tục thành lập hộ kinh doanh

Thủ tục giải thể công ty

Thủ tục thành lập công ty
Thành lập công ty cổ phần
Thành lập công ty tnhh
Giải thể công ty
Thủ tục đăng ký kinh hộ kinh doanh
Thành lập công ty tại HCM

CÔNG TY TNHH LUẬT QUỐC BẢO

Địa chỉ: 191 Phạm Văn Bạch P15 Tân Bình, TP.HCM

Mr. Phan
Email: luatquocbao.vn@gmail.com

Mọi thắc mắc về nội dung và cần được giải đáp?

Hãy NHẬP SỐ ĐIỆN THOẠI và yêu cầu gọi lại để được cán bộ tư vấn của công ty liên lạc hỗ trợ.